Đàm thoại với cha xứ về ba chức năng của người Kitô hữu

06/06/20269:25 CH(Xem: 1059)
Đàm thoại với cha xứ về ba chức năng của người Kitô hữu

Đàm thoại với cha xứ

về ba chức năng

của người Kitô hữu

 aaa

 

Đây là một cuộc đàm thoại tại phòng khách nhà xứ một họ đạo, nơi cha An, linh mục chánh xứ, thường tiếp đón các giáo dân trong xứ. Có hai giáo dân là anh Minh và cô Bình muốn gặp cha xứ để xin cha giải thích những điều họ chưa hiểu rõ về đề tài giáo lý mà thầy giúp xứ đã dạy trong lớp giáo lý trước đó mấy ngày.
Cuộc đàm thoại gồm 3 người:
  • Cô Bình, một Kitô hữu bình dân, hay thắc mắc.
  • Anh Minh, người khá trí thức, thích phản biện, hay đặt vấn đề ngược lại để đào sâu.
  • Cha An, linh mục chánh xứ, dù phải coi sóc giáo xứ, nhưng vẫn thường nghiên cứu Thánh Kinh và thần học.
Đề tài là 3 chức năng của Chúa Kitô, là vương đế, tư tế và ngôn sứ, mà người Kitô hữu từng lãnh nhận khi lãnh bí tích rửa tội.
o0o
Sau khi chào hỏi, cha An tiếp đãi hai giáo dân của mình bằng bình nước trà, và khi cả ba người cùng ngồi yên vị thì cô Bình mở đầu câu chuyện:
Bình:
Thưa cha, cách đây mấy ngày, trong lớp giáo lý, thầy Tâm có nói đến ba chức năng của Đức Kitô là tư tế, ngôn sứ và vương đế mà bất kỳ người Kitô hữu nào cũng từng lãnh nhận khi chịu phép rửa tội. Thầy Tâm đã giải thích, nhưng thú thật, con chẳng hiểu gì mấy. Là người Kitô hữu, con chỉ biết đi lễ, đọc kinh, giữ đạo cho tốt, và con nghĩ như thế là đủ rồi. Như vậy, thưa cha, ba chức năng ấy có liên quan gì đến con không?
Cha An: Có chứ! Ba chức năng ấy là căn tính của mỗi người chúng ta từ ngày chịu Phép Rửa. Nếu không hiểu chúng, ta sẽ sống đạo một cách nửa vời, chỉ quanh quẩn trong nhà thờ mà không biết mình được Đức Giêsu sai đi, và sai đi làm gì.
Minh: Con lại nghĩ khác, cha ạ. Khi thầy Tâm nói về ba chức năng ấy, con nghe thấy cũng hay, nhưng xem ra có vẻ xa vời quá. Người bình dân làm sao sống nổi những điều lớn lao như «ngôn sứ», «tư tế» hay «vương đế»? Xin cha giải thích sao cho thực tế một chút.
Bình: Xin cha nói trước về chức tư tế đi. Con cứ tưởng tư tế là việc của cha, của các linh mục, chứ đâu có phải là việc của tụi con.
Cha An: Quả là linh mục có chức tư tế thừa tác, nhưng mọi Kitô hữu giáo dân như hai anh chị thì đều có chức tư tế cộng đồng. Chức tư tế cộng đồng ấy được thánh Phaolô nói đến trong câu: «Anh em hãy dâng chính thân mình làm của lễ sống động» (Rm 12:1).
Bình: Nghĩa là sao, thưa cha?
Cha An: Nghĩa là tất cả những công việc chúng ta làm, những hy sinh trong gia đình, những cố gắng sống ngay thẳng, những nỗi buồn ta chịu vì yêu thương, tất cả đều có thể trở thành lễ dâng, nếu ta dâng lên Chúa với lòng yêu mến. Làm như thế là ta thực hiện chức năng tư tế đấy!
Minh: Nhưng như vậy thì có khác gì sống đạo bình thường đâu? Trong cuộc đời, ai mà chẳng yêu thương, ai mà chẳng làm việc, ai mà chẳng hy sinh?
Cha An: Khác chứ Minh. Người Kitô hữu làm những việc ấy với ý thức dâng lên Thiên Chúa, biến đời sống của mình thành phụng vụ. Hiến chế Lumen Gentium của Công đồng Vatican II số 34 nói rằng mọi việc ta làm trong Thánh Thần đều trở thành «của lễ thiêng liêng». Điều quan trọng không phải là việc lớn hay nhỏ, mà là ta có tâm tình dâng hiến hay không
Bình: ! Vậy là con cũng làm «tư tế» khi con làm việc với lòng ngay thẳng, khi con hy sinh cho chồng con của con với tấm lòng yêu thương như Chúa đã dạy, phải không, Cha?
Cha An: Đúng vậy. Làm như vậy là chị thánh hóa đời sống bằng chính đời sống đầy yêu thương của chị. Bất kỳ sự hy sinh hay việc làm nào mà chị thực hiện vì tình thương, vì lòng nhân ái, đều có thể biến thành những lễ vật rất có giá trị để dâng cho Thiên Chúa như một của lễ. Chắc chắn nó có giá trị hơn những lời ca tụng Thiên Chúa chỉ bằng môi mép, những lời ca tụng không đi đôi với một hành động thực tế nào.
Minh: a, vậy khi con hy sinh vì yêu thương vợ con con, vì yêu thương bạn bè con, hay vì yêu thương mọi người thì đều có giá trị trước Thiên Chúa hơn cả những lời con ca tụng Thiên Chúa mà chẳng có tâm tình gì trong đó sao? hay chẳng ý thức gì về ý nghĩa của những lời ca tụng ấy sao?
Cha An: Chính xác là như vậy! Chính Đức Giêsu đã xác định điều ấy khi Ngài nói về những người Pharisêu: «Dân này Kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích» (Mt 15:8-9). Nhất là về những hy sinh cho tha nhân, Ngài đã từng quả quyết như đinh đóng cột rằng «Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm (hay không làm) như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm (hay không làm) cho chính Ta vậy» (Mt 25:40/45).
Minh: Như vậy là khi nào mình hy sinh cho tha nhân vì tha nhân là hình ảnh của Thiên Chúa, thì cũng chính là mình làm cho Thiên Chúa sao? Và như vậy thì đó cũng là một lễ hy sinh dâng lên Thiên Chúa, tức là một hành vi tư tế, là hành vi thờ phượng Thiên Chúa sao?
Cha An: , anh Minh, tôi không ngờ anh nói được câu chí lý ấy! Anh thấy không, khi Đức Giêsu hy sinh chết cho nhân loại, vì yêu thương nhân loại, thì chính hành vi yêu thương nhân loại ấy đã được Giáo Hội coi là sự thờ phượng có giá trị đẹp lòng Thiên Chúa nhất. Mọi hành vi yêu thương nhằm thực hiện «giới răn mới» của Đức Giêsu, đều có giá trị thờ phượng Thiên Chúa một cách rất thực tế.
Minh: ! Thật sự như vậy sao? Lạ quá! Xin Cha giải thích rõ hơn. À, mà sao Chúa Giêsu gọi đó là «giới răn mới»? Con thấy đó chỉ là một trong hai giới răn cũ là «mến Chúa» và «yêu người» trong Cựu Ước thôi, chứ có mới mẻ gì đâu?
Cha An: Nó mới mẻ ở chỗ là nó khác với hai giới răn cũ. Hai giới răn cũ vốn tách biệt tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân coi đó như hai đối tượng hoàn toàn tách biệt nhau, đến nỗi người ta nghĩ có thể yêu Thiên Chúa mà không yêu tha nhân. Còn Chúa Giêsu thì kết hiệp hai tình yêu ấy thành một: yêu tha nhân vì tha nhân là hình ảnh của Thiên Chúa, thì cũng chính là yêu Thiên Chúa. Nó mới là mới ở chỗ ấy. Chúa Giêsu từng xác nhận «điều răn mới» ấy như một lời trăng trối trước khi đi chịu tử hình: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau» (Ga 13:34-35). Lời trăng trối là lời quan trọng nhất mà người sắp từ giã cõi đời muốn con cháu hay người thân của mình phải thực hiện với bất cứ giá nào! Và «điều răn mới» này chính là cốt tủy, là điều quan trọng nhất trong việc sống đạo của Kitô giáo đó!
Bình: Suốt 3 năm giảng đạo, sao Chúa không nói điều ấy, mà chờ đến khi sắp chịu tử hình mới nói?
Cha An: Ngài đã nói điều ấy nhiều lần rồi, rằng «ai làm cho những người bé mọn nhất trong anh em là làm cho Thầy», nhưng không nói rõ và trang trọng như lần cuối cùng này! Vả lại, có để đến cuối đời như một lời trăng trối mới cho mọi người thấy được tính chính yếu và quan trọng của nó. Nếu phải nói tóm lại cốt yếu của Đạo Chúa trong mấy chữ thì đó là «hãy yêu tha nhân như Chúa yêu».
Minh: Con hiểu ra rồi! Chính vì Chúa yêu con người, tương tự như cha mẹ yêu thương con, suốt đời lo cho con cái được hạnh phúc. Vì thế, trước khi nhắm mắt lìa đời, biết mình không còn lo hạnh phúc cho con cái mình được nữa, nên mới mong muốn cho con cái mình biết yêu thương nhau và lo hạnh phúc cho nhau, như chính mình lo cho chúng. Chúng có yêu thương nhau, lo cho nhau, thì mình mới yên lòng mà nhắm mắt, phải không, Cha!
Cha An: Chính xác! Cảm ơn Chúa đã soi sáng cho anh suy nghĩ ra điều ấy. Việc kết hiệp hai thứ tình yêu ấy thành một, đã được thánh Phaolô và Giacôbê nói rất rõ: «Yêu thương là chu toàn Lề Luật» (Rm 13:10); «Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật» (Rm 13:8); «Tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình» (Gl 5:14); «Luật Kinh Thánh đưa lên hàng đầu: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình» (Gc 2:8). Do đó, ngoài việc làm tư tế hay phụng vụ trong nhà thờ, thì người Kitô hữu có thể làm tư tế hay phụng vụ trong đời sống, bằng cách dâng lên Thiên Chúa những lễ vật, những hy sinh qua việc làm cho tha nhân trở nên   tốt hơn, hạnh phúc hơn vì yêu thương họ.
Bình: Con hiểu rồi! Vậy là con có thể làm tư tế hằng ngày được. Thế mà con cứ tưởng muốn làm tư tế thì phải làm linh mục như cha mới làm được. Thế còn chức ngôn sứ thì sao? Con nghe hai chữ «ngôn sứ» thì thấy nó cao siêu quá! Con nghe nói ngôn sứ cũng đồng nghĩa với «tiên tri», nghĩa là người biết trước những điều sẽ xảy ra, phải không, thưa Cha?
Cha An: Không phải đâu, ngôn sứ đâu phải là người dự đoán tương lai. Ngôn sứ chính là người nói sự thật, sống sự thật, và làm chứng cho sự thật, cho Tin Mừng. Hiến chế Lumen Gentium số 35 nói rằng giáo dân được mời gọi «làm chứng cho Đức Kitô bằng đời sống và lời nói».
Minh: Nhưng cha biết rồi đó, xã hội bây giờ phức tạp lắm. Nói sự thật nhiều khi bị ghét, bị hiểu lầm. Người bình dân làm sao dám làm ngôn sứ?
Cha An: Để làm ngôn sứ, Chúa không đòi buộc chúng ta phải làm những chuyện lớn lao. Vì nói sự thật, sống sự thật và làm chứng cho Tin Mừng thì đó là những điều ta phải làm hằng ngày mà!
Bình: Cha nói thế thì con vẫn chưa hiểu. Xin cha kể ra một vài việc làm thực tế đi.
Cha An: Chẳng hạn như một người mẹ dạy con phải sống tử tế, phải nói sự thật, không được nói dối, đó là làm chứng cho sự thật, đó là hành động ngôn sứ của người mẹ; hay một người công nhân từ chối gian lận, làm việc tận tâm xứng với đồng lương của mình, đó là làm chứng cho sự công bằng, cũng là hành vi ngôn sứ đấy! Hay một người trẻ dám sống trong sạch giữa môi trường đầy cám dỗ, thì đó là làm chứng cho lương tâm ngay thẳng, tức là làm ngôn sứ đấy. Nói chung, ngôn sứ không phải là làm cái gì to tát, là phải diễn thuyết hùng hồn, mà là sống cho đúng với lương tâm của mình, làm gương sáng cho mọi người.
Bình: Như vậy ngôn sứ toàn là chuyện thực hiện qua hành động chứ không phải qua lời nói sao? Hay là phải làm chứng bằng đời sống trước, rồi mới bằng lời nói sau?
Cha An: Đúng vậy. Đời sống là bài giảng mạnh mẽ nhất. Trong văn chương Việt Nam có những câu như «Lời nói lung lay, gương bày lôi cuốn», «Trăm nghe không bằng một thấy». Người ngôn sứ đích thật thì coi trọng việc làm hơn lời nói rất nhiều. Chính Chúa Giêsu cũng chủ trương: «Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em» (Ga 13:15). Đức Giáo hoàng Phaolô VI cũng viết: «Con người thời nay tin các chứng nhân hơn là các thầy dạy». Chỉ có ngôn sứ giả mới nói mà không làm như Chúa Giêsu từng nói về những người Pharisêu: «Những gì họ nói thì anh em hãy làm, hãy giữ; nhưng đừng theo hành động của họ mà làm, vì họ nói mà không làm» (Mt 23:3).
Minh: Thưa Cha, hiện nay con thấy xã hội có nhiều bất công quá, có những người bị kết án một cách hết sức oan ức. Con cảm thấy mình hoàn toàn im lặng trước những oan ức bất công ấy thì lương tâm con áy náy quá! Con cảm thấy chức năng ngôn sứ của người Kitô hữu đòi hỏi con phải làm một cái gì đấy. Nhưng con mà lên tiếng chống bất công hay minh oan cho người ta thì nguy hiểm quá! Biết bao người lên tiếng thì đã bị vào tù cả. Con sợ lắm! Con lên tiếng mà bị vào tù thì ai nuôi vợ con của con đây? Vậy con phải làm sao để vừa trung thành với Tin Mừng, vừa không làm hại gia đình?
Cha An: Minh à, tôi hiểu nỗi băn khoăn của anh. Câu hỏi của anh không chỉ là câu hỏi của riêng anh. Nó là câu hỏi của biết bao Kitô hữu đang sống trong một thế giới đầy bóng tối và bất công. Và chính vì thế, câu hỏi của anh là một câu hỏi thần học, chứ không chỉ là câu hỏi đạo đức.
Minh: Nghĩa là sao? Con chưa hiểu.
Cha An: Ai có lương tâm cũng sẽ day dứt khi thấy bất công, nhất là khi thấy người vô tội bị kết án oan. Anh áy náy như thế là dấu hiệu cho thấy chức năng ngôn sứ ở trong anh đang sống, chứ không chết. Và đó là điều rất quý. Thấy bất công mà không hề áy náy chút nào thì mới là lương tâm đã chết. Nhưng tôi cũng hiểu nỗi sợ của anh. Sợ bị trả thù, sợ bị hiểu lầm, sợ bị bắt, sợ gia đình mình khổ… Những nỗi sợ ấy không làm anh kém đức tin; nó chỉ chứng tỏ anh là một con người có trách nhiệm với gia đình và cuộc sống. Ngay cả các ngôn sứ trong Kinh Thánh cũng đã từng sợ hãi trước lời kêu gọi của Chúa. Chẳng hạn như Giêrêmia đã phải thưa với Chúa: «Lạy Chúa, con còn quá trẻ, con không biết ăn nói» (Gr 1:6). Hay Môsê cũng run rẩy khi được sai đến với Pharaô (x. Xh 3:11; 4:1.10). Ngay cả Đức Giêsu, trong Vườn Cây Dầu, cũng run sợ đến đổ mồ hôi máu (x. Lc22:43). Vậy nên, nỗi sợ không phải là dấu hiệu của sự hèn nhát. Nỗi sợ chỉ trở thành hèn nhát khi ta để nó bịt miệng lương tâm.
Minh: Nhưng thưa cha, con không phải là Giêrêmia hay Môsê. Con chỉ là một người bình thường. Con không có ơn gọi làm ngôn sứ lớn lao. Con chỉ muốn sống bình an với gia đình. Con sợ rằng nếu con lên tiếng, con sẽ kéo cả nhà vào nguy hiểm.
Cha An: Anh nói đúng: không phải ai cũng được Chúa gọi để làm ngôn sứ theo kiểu công khai, đối đầu, hay trở thành tiếng nói lớn trong xã hội. Công đồng Vatican II, trong Lumen Gentium số 35, nói rằng giáo dân thi hành chức năng ngôn sứ «bằng đời sống và lời nói, tùy theo hoàn cảnh và khả năng của họ». Điều đó có nghĩa là: Chúa không đòi anh phải làm điều vượt quá sức của anh. Chúa không đòi anh phải hy sinh gia đình để chứng tỏ mình là ngôn sứ. Nhưng Chúa cũng không cho phép anh quay lưng lại với sự thật. Ngôn sứ không phải là người hét to nhất, ngôn sứ không đồng nghĩa với liều lĩnh. Nhưng ngôn sứ là người trung thành nhất. Điều quan trọng là không để lương tâm mình hoàn toàn im lặng như không có chuyện gì xảy ra.
Minh: Nghĩa là sao? Con không nên liều lĩnh lên tiếng bất chấp nguy hiểm, phải không?
Cha An: Không hẳn như thế! Trong Kinh Thánh, các ngôn sứ không phải lúc nào cũng đứng giữa quảng trường mà hô to. Nhiều khi họ lên tiếng bằng những cách rất âm thầm, rất khôn ngoan, rất phù hợp với hoàn cảnh. Ngôn sứ không phải là người lúc nào cũng sẵn sàng «đâm đầu vào chỗ chết», mà là người trung thành với sự thật theo cách mà hoàn cảnh cho phép.
Bình: Thưa cha, vậy con hiểu là… không phải cứ lên Facebook viết bài là làm ngôn sứ, đúng không cha? Con chỉ cần sống ngay thẳng, không gian lận, không hùa theo điều sai… là con cũng đang làm ngôn sứ rồi, phải không?
Cha An: Đúng vậy đó, Bình! Trong truyền thống Kitô giáo, có một loại ngôn sứ mà các nhà thần học gọi là «ngôn sứ âm thầm» (prophetic witness in silence). Đó là: những người buôn bán không gian lận, người giáo viên không bóp méo sự thật, các quan chức thanh liêm không hối lộ… Những người ấy không đứng trên bục giảng, nhưng họ đứng vững trong sự thật. Và đôi khi, chứng tá âm thầm ấy còn mạnh hơn cả những tiếng hô lớn.
Minh: Nhưng thưa cha, nếu con im lặng hoàn toàn thì lương tâm con không yên. Con cảm thấy mình có lỗi với những người bị oan.
Cha An: Anh nói đúng đấy, Minh ạ! Lương tâm là nơi Thiên Chúa nói với anh. Nếu lương tâm anh cắn rứt, đó là dấu hiệu Chúa đang mời anh làm điều gì đó, nhưng không nhất thiết là điều nguy hiểm. Anh có thể: cầu nguyện cho người bị oan, nâng đỡ gia đình họ, chia sẻ sự thật trong phạm vi an toàn, không lan truyền tin sai, không hùa theo bất công, sống công chính trong nghề nghiệp, ủng hộ những sáng kiến bảo vệ công lý một cách kín đáo. Tất cả những điều ấy đều là hành vi ngôn sứ, và hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh của anh. Ngôn sứ không phải là người «làm tất cả», mà là người làm điều mình có thể, với tình yêu và sự trung tín.
Minh: Vậy thưa cha, nếu một ngày nào đó Chúa muốn con lên tiếng mạnh mẽ hơn, thì Ngài sẽ ban sức mạnh cho con để con có thể làm được, phải không?
Cha An: Đúng vậy. Ơn gọi làm ngôn sứ một cách công khai, giữa xã hội, không phải là điều ta tự chọn. Đó là điều Chúa gọi, và Ngài gọi đúng lúc. Nếu hôm nay Chúa chỉ mời anh sống ngôn sứ bằng những việc nhỏ bé, âm thầm, thì anh cứ sống như thế. Nếu một ngày nào đó Chúa muốn anh lên tiếng mạnh mẽ hơn, Người sẽ ban cho anh ơn can đảm, ơn bình an, ơn phân định và hoàn cảnh thích hợp. Thiên Chúa không bao giờ sai ai đi mà không trang bị cho họ.
Bình: Như vậy thì… làm ngôn sứ không phải là liều mạng, mà là sống đúng với sự thật trong khả năng của mình?
Cha An: Đúng vậy, Bình ạ. Ngôn sứ thật sự là người vừa trung tín vừa khôn ngoan, vừa yêu sự thật vừa biết bảo vệ gia đình mà Chúa trao cho mình. Còn Minh. Anh không cần phải làm anh hùng, anh chỉ cần không phản bội lương tâm, và sống sự thật theo cách mà Chúa cho phép anh sống. Đó chính là ngôn sứ của thời đại hôm nay. 
Bình: Vậy là con hiểu tương đối khá rõ về chức năng ngôn sứ rồi. Thế còn chức vương đế thì sao? Nghe như là làm vua vậy.
Cha An: Thì Đức Kitô chính là Vua mà! Nhưng Ngài là Vua theo kiểu hoàn toàn khác với các vua trần thế. Ngài nói: «Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ» (Mc 10:45). Vậy chức vương đế của Kitô hữu không phải là thống trị người khác, mà là thống trị chính mình, thống trị tội lỗi, thống trị những đam mê xấu, thống trị sự ích kỷ trong lòng mình. Trong thần học, người ta gọi đó là vương quyền thiêng liêng,regnum spirituale. Đó là quyền cai trị bản thân, chứ không phải cai trị người khác. Và vương quyền ấy được dùng để phục vụ tha nhân trong tình yêu.
Minh: Nhưng thưa cha, phục vụ thì ai cũng làm. Người không có đạo cũng phục vụ. Vậy Kitô hữu có gì khác? Nếu ai cũng làm việc thiện, thì chức vương đế của Kitô hữu khác chỗ nào?
Cha An: Khác chứ Minh. Người ngoài Kitô giáo có thể phục vụ vì lòng nhân ái tự nhiên, vì đạo đức xã hội, vì tình người. Nhưng người Kitô hữu phục vụ vì tham dự vào chính vương quyền của Đức Kitô. Vương quyền ấy có ba đặc điểm thần học:
● Thứ nhất, Đức Kitô cai trị bằng cách tự hiến, chứ không áp đặt. Ngài chiến thắng bằng thập giá, chứ không bằng gươm giáo. Vì thế, người Kitô hữu phục vụ không phải để được khen, không phải để chứng tỏ mình tốt, mà để cho Nước Trời lớn lên.
● Thứ hai, là chiến thắng tội lỗi. Lumen Gentium số 36 nói rằng giáo dân tham dự vào chức vương đế khi họ «chiến thắng tội lỗi trong chính mình». Vậy vương quyền Kitô giáo bắt đầu từ bên trong, từ cuộc chiến nội tâm: bằng chiến thắng nóng giận, chiến thắng ích kỷ, chiến thắng thói quen làm điều xấu, chiến thắng sự lười biếng, chiến thắng những đam mê kéo mình xa Chúa. Ai cai trị được chính mình thì mới có thể phục vụ người khác bằng tình yêu.
● Thứ ba, người Kitô hữu thực hiện chức vương đế bằng việc xây dựng xã hội theo tinh thần Tin Mừng. Vương quyền của Kitô hữu không dừng lại ở nội tâm, mà lan ra xã hội qua việc sống công bằng, tôn trọng phẩm giá con người, bảo vệ người yếu thế, góp phần xây dựng công ích, làm cho môi trường sống trở nên nhân bản hơn. Đó là cách Kitô hữu «làm vua» trong thế giới này: không bằng quyền lực, mà bằng sự biến đổi âm thầm nhưng mạnh mẽ của tình yêu.
Bình: Vậy khi con nhịn nhục để giữ hòa khí trong nhà, hay con giúp người nghèo, là con đang sống chức năng vương đế, phải không Cha?
Cha An: Đúng vậy. Như vậy là chị đang cai trị chính mình bằng tình yêu. Nhưng tôi muốn chị hiểu sâu hơn: Khi chị nhịn nhục, chị không chỉ «giữ hòa khí», mà chị đang chiến thắng chính mình. Khi chị giúp người nghèo, chị không chỉ làm việc thiện, mà chị đang làm cho Nước Trời lớn lên. Chức vương đế của Kitô hữu là quyền cai trị bằng tình yêu, mà tình yêu ấy bắt đầu từ việc cai trị chính trái tim mình. Thánh Augustinô nói: «Người cai trị tốt nhất là người cai trị được chính mình.» Và thánh Tôma Aquinô nói rằng: «Chiến thắng lớn nhất của chúng ta người là chiến thắng chính mình.» Vậy khi chị làm chủ bản thân, là chị sống vương quyền của Đức Kitô trong chính bản thân chị.
Minh: Nghe cha giải thích, con thấy ba chức năng này không xa vời như con tưởng. Nhưng hình như trong thực tế, người ta chỉ nhấn mạnh chức tư tế theo nghĩa nghi lễ, còn hai chức năng kia hầu như bị bỏ quên, hay không mấy khi được nhắc đến.
Cha An: Đúng vậy. Và đó là điều đáng tiếc. Nếu chỉ sống chức tư tế mà không sống ngôn sứ, đức tin sẽ trở thành nghi lễ. Nếu chỉ sống tư tế mà không sống vương đế, đức tin sẽ trở thành thụ động. Nếu thiếu ngôn sứ và vương đế, Kitô giáo sẽ mất khả năng biến đổi xã hội.
Bình: Con hiểu rồi. Sống đạo không chỉ là đi lễ, mà là sống ba chức năng ấy mỗi ngày.
Cha An: Đúng vậy đấy, Bình ạ. Khi chị dâng đời sống như lễ tế (tức làm tư tế), hay sống trung thực (tức làm ngôn sứ), và phục vụ trong yêu thương (tức thực hành vương đế), là chị đang sống trọn vẹn căn tính Kitô hữu của mình.
Minh: Vậy thì có lẽ Giáo Hội hôm nay cần đánh thức lại hai chức năng bị bỏ quên ấy, để đức tin không chỉ đẹp trong nhà thờ, mà còn mạnh mẽ giữa đời.
Cha An: Đó chính là điều Đức Kitô mong muốn: một dân thánh biết thờ phượng Thiên Chúa, biết làm chứng cho sự thật, và biết phục vụ trong yêu thương.
o0o
Cuộc đàm thoại tại phòng khách nhà xứ kết thúc trong bầu khí thân tình và lắng đọng. Mỗi người ra về với một tâm trạng khác nhau, nhưng đều mang theo một điều gì đó mới mẻ. Anh Bình thì thấy lòng mình sáng ra, như vừa mở được một cánh cửa mà bấy lâu nay anh chỉ đứng nhìn từ xa. Anh Minh thì cảm thấy những băn khoăn của mình được soi sáng, không phải bằng những câu trả lời dễ dãi, nhưng bằng một hướng đi trưởng thành hơn, chín chắn hơn. Còn cha An thì thầm tạ ơn Chúa, vì chính trong những cuộc gặp gỡ đơn sơ như thế, Tin Mừng lại được gieo vào lòng người một cách âm thầm nhưng sâu sắc.
Và có lẽ, điều quan trọng nhất mà cuộc đàm thoại này gợi lên chính là lời mời gọi dành cho mỗi người chúng ta: đừng để đức tin bị thu hẹp vào nhà thờ, nhưng hãy để nó trở thành ánh sáng soi chiếu đời sống hằng ngày. Bởi vì Kitô giáo không chỉ là một tôn giáo của nghi lễ, mà là một lối sống đạo; không chỉ là những lời kinh, mà là một cuộc đời được biến đổi; không chỉ là những buổi cử hành, mà là một hành trình trở nên giống Đức Kitô hơn mỗi ngày.
Khi người Kitô hữu sống trọn vẹn ba chức năng ấy, Giáo Hội sẽ không còn là một cộng đoàn chỉ biết cử hành nghi thức, nhưng sẽ trở thành một cộng đoàn biết thánh hóa – làm chứng – phục vụ. Và chính lúc đó, Giáo Hội mới thực sự trở thành «muối cho đời» và «ánh sáng cho trần gian», như Đức Kitô đã muốn từ thuở ban đầu.
Nguyễn Chính Kết
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18/07/2026(Xem: 4)
Những tranh luận gần đây trong Giáo phận Vinh đã cho thấy một điều đáng lo ngại: nhiều Kitô hữu phán đoán theo cảm tính, theo sự yêu, ghét cá nhân, hoặc theo những quan niệm luân lý chưa được đào sâu. Vì thế, tôi nhận ra rằng, trước khi phán đoán bất cứ sự việc nào trong Giáo Hội, chúng ta cần trở về với nền tảng thần học luân lý Kitô giáo, nền tảng mà mọi Kitô hữu, bất kể chức vụ hay hoàn cảnh, đều phải dựa vào.
16/07/2026(Xem: 120)
Trong lịch sử Giáo hội, ánh sáng của Tin Mừng nhiều khi đến từ những con người âm thầm, nhưng can đảm, dám đứng về phía những người bị chà đạp. Chẳng những họ bị bách hại bởi quyền lực thế tục, và đôi khi họ cũng bị bạc đãi bởi chính quyền bính tôn giáo trong thời đại của họ. Nhưng chính họ, bằng đời sống, thậm chí bằng đau khổ hay cái chết của mình, đã trở thành những chứng nhân sáng ngời cho công lý Tin Mừng và cho Học thuyết Xã hội Công giáo.
15/07/2026(Xem: 668)
Một trong những tác động sâu sắc nhất của vụ Cha Đặng Hữu Nam là sự thức tỉnh của lương tâm Kitô giáo. Khi một linh mục bị trừng phạt vì dấn thân cho người nghèo, thì người tín hữu phải tự hỏi: «Chúng ta đang sống theo Tin Mừng hay đang sống theo nỗi sợ?» Khi một giám mục im lặng trước bất công, thì người tín hữu phải tự hỏi: «Chúng ta đang vâng phục Chúa hay vâng phục thế quyền?»
14/07/2026(Xem: 253)
Để có được Nước Trời, hay để theo Chúa, điều quan trọng nhất mà ta phải ưu tiên «bán đi» hay từ bỏ, đó chính là «cái tôi» của ta. Nếu ta chưa từ bỏ chính «cái tôi» của ta, thì tất cả những gì ta từ bỏ, vẫn bị kể như chưa từ bỏ gì cả. Có từ bỏ chính «cái tôi» của ta, thì tất cả những từ bỏ khác của ta mới có giá trị trước mặt Thiên Chúa.
14/07/2026(Xem: 291)
Bản thân chúng ta cũng giống như «ngọc còn trong đá», nên ta vẫn tưởng mình chỉ là cục đá tầm thường. Nếu chỉ là cục đá tầm thường, chẳng ai có thể mài dũa nó thành ngọc quí giá được. Nhưng bản chất chúng ta giống như ngọc quý còn trong đá, nhưng «Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài, cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi» (Ca dao). Vậy khi biết mình bản chất là ngọc, ta phải biết tự mài dũa để trở nên ngọc vô giá.
FOLLOW US
ĐĂNG KÝ NHẬN TIN MỚI
Thông tin của bạn được giữ kín tuyệt đối và có thể hủy đăng ký bất cứ lúc nào. Nhập địa chỉ email của bạn
THÔNG TIN LIÊN LẠC