Khi Chúa đến, phúc cho ai không vấp ngã vì Ngài

09/12/20254:04 CH(Xem: 816)
Khi Chúa đến, phúc cho ai không vấp ngã vì Ngài

Khi Chúa đến, phúc cho ai

không vấp ngã vì Ngài

 aaa

 

 

TIN MỪNG: Mt 11:2-11

Câu hỏi của ông Gioan Tẩy Giả
và câu trả lời của Đức Giêsu
(2) Ông Gioan lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Kitô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: (3) «Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?» (4) Đức Giêsu trả lời: «Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: (5) Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, (6) và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi».
 (7) Họ đi rồi, Đức Giêsu bắt đầu nói với đám đông về ông Gioan rằng: «Anh em ra xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? (8) Thế thì anh em ra xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. (9) Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. (10) Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến.
 (11) «Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông».

 

SUY NIỆM

1. Thắc mắc của Gioan Tẩy Giả
Gioan Tẩy Giả là người được Thiên Chúa kêu gọi làm một ngôn sứ, đồng thời làm vị Tiền Hô để dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Ông rất ý thức điều ấy, và đã hoàn thành nhiệm vụ ấy một cách hoàn hảo. Chính vì thế, ông đã bị ngồi tù do dám tố cáo những sai trái của chính quyền đương thời là vua Hêrốt. Tình trạng khó khăn và tuyệt vọng trong tù dễ làm người ta xuống tinh thần, vì thế, đức tin của Gioan vào Đức Giêsu phần nào bị thử thách.
Có thể lúc đó ông tự hỏi: Nếu Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế mà ông có sứ mạng tiền hô cho Ngài, thì tại sao ông lại phải ngồi tù thế này? Nếu Ngài là Đấng Cứu Thế, thì ắt hẳn Thiên Chúa phải để ông ở ngoài hầu hợp tác với Ngài thiết lập triều đại mới chứ! Ông sẽ phải là cánh tay mặt của Ngài chứ! Chắc chắn Gioan cũng quan niệm như mọi người Do Thái khác rằng Đấng Cứu Thế sẽ giải phóng dân Do Thái và sẽ trở thành một vị Hoàng Đế cai trị toàn cầu. Vì thế, khi Ngài đã bắt đầu ra mặt mà ông vẫn còn phải ngồi tù thế này thì quả là khó hiểu? Do đó, ông đã sai môn đệ của ông đến gặp Đức Giêsu để hỏi cho rõ. Và họ đã đến gặp Ngài.
 
2. Những điều ứng nghiệm nơi Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế
Đức Giêsu đã không trả lời trực tiếp bằng cách xác định mình chính là Đấng Cứu Thế, nhưng trả lời gián tiếp bằng những dấu hiệu mà trước đó khoảng 700 năm ngôn sứ Isaia đã tiên báo về thời đại của Đấng Cứu Thế: «Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng» (xem Is 26:19; 29:18-19; 35:5-6a; 61:1). Đó là những điều mà Đức Giêsu đã dùng quyền năng của mình thực hiện trước mắt mọi người.
Thử đặt mình vào địa vị Gioan Tẩy giả và người Do Thái thời ấy xem, ta có thể tin được Ngài là Đấng Cứu Thế không, khi mà đầu óc ta cứ nghĩ rằng Ngài sẽ giải phóng đất nước Do Thái bằng binh hùng tướng mạnh, bằng chính trị và quân sự? Thế mà hiện tại trước mắt, Ngài chỉ là một thầy đạo không một tấc sắt trong tay! Làm sao tin được Ngài là Đấng ấy, nhất là khi thấy Ngài bị nộp và bị đem đi giết như một tội nhân?
Chính vì thế, ngay từ lúc này Ngài đã nói: «Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi» (Mt 11:6). Liệu câu nói ấy có ứng cho chính chúng ta khi Ngài trở lại không? Nếu Ngài trở lại theo một cách thức thật bất ngờ, không đúng như cách ta vẫn thường nghĩ, liệu ta có vấp ngã vì Ngài không? Vì nếu Ngài trở lại đúng theo cách ta thường nghĩ, thì lời Ngài tiên báo là sẽ đến «như kẻ trộm» đâu còn đúng nữa? Vậy, ta cần phải tỉnh táo khi Ngài đến để khỏi vấp ngã vì Ngài.
 
3. Đức Giêsu đến để thực hiện một cuộc cách mạng tôn giáo
Tôi e rằng khi Ngài đến lần thứ hai, rất nhiều người sẽ vấp ngã và xúc phạm đến Ngài như lần Ngài đến trước, vì Ngài sẽ không đến theo như quan niệm của họ, nhất là về mặt tư tưởng và giáo thuyết. Lý do:
Nhân loại luôn luôn tiến hóa và đổi mới. Vì thế, các tôn giáo – vốn là phương tiện phục vụ con người, dẫn con người đến với Thiên Chúa – cũng phải thay đổi theo để phục vụ con người một cách phù hợp và hữu hiệu hơn. Hiện nay, nhân loại đã bước sang thời đại internet, toàn cầu hóa, với kỹ thuật AI hay trí tuệ nhân tạo, với tinh thần khoa học thực nghiệm, với những kỹ thuật hết sức tân tiến. Về mặt chính trị, nhân loại không còn chấp nhận được những chế độ độc tài, bưng bít thông tin, tự do hà hiếp bóc lột dân chúng. Những quan niệm tôn giáo cũ có thể thích hợp với nhân loại cũ, thời đại cũ, với những quan niệm khoa học cũ. Nay nhân loại đã đổi mới, những quan niệm và thể chế tôn giáo không thay đổi để phù hợp sẽ bị đào thải. «Không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu mới sẽ làm nứt bầu, sẽ chảy ra và bầu cũng hư» (Lc 5:37). Đương nhiên trong tôn giáo có những điều cốt tủy không bao giờ thay đổi được. Vấn đề quan trọng là phân biệt cái nào có thể thay đổi và cái nào là cốt lõi không thể thay đổi được.
Tôn giáo và luật lệ của tôn giáo là một cái gì linh thiêng, thần thánh, được hiểu là do Thiên Chúa thiết lập, được vĩnh cửu hóa và tuyệt đối hóa bằng những lời chắc nịch trong Kinh Thánh (chẳng hạn: St 9:12; Xh 12:14; 32:13b; Đnl 29:28; 1 V 8:13; Tv 98:5; và vô số câu khác). Vậy thì con người nào ai dám thay đổi? Chỉ có những Đấng Thiên Sai như Đức Giêsu mới có thể làm chuyện ấy. Chính Đức Giêsu đã thực hiện một cuộc cách mạng vĩ đại về tôn giáo. Và cũng chính vì làm cuộc cách mạng ấy Ngài mới bị giết bởi tay các nhà lãnh đạo tôn giáo cũ. Thế là, như ta đã biết, vô số người đã vì Ngài mà vấp ngã!
 
4. Cuộc cách mạng tôn giáo của Đức Giêsu
Tôn giáo Do Thái do Thiên Chúa thiết lập nhưng do Môsê hình thành. Những luật lệ do Môsê ban hành được coi là linh thánh và vĩnh cửu, vì được hiểu là luật của Thiên Chúa. Nhưng thật ra luật ấy chỉ phù hợp với trình độ văn hóa và tâm linh của dân Do Thái thời thượng cổ. Luật ấy được xây dựng trên sự sợ hãi của dân chúng. Tương tự như khi con người còn là một đứa trẻ, muốn nó sống tốt thì không thể chỉ dùng lời khuyên và trông chờ vào sự hiểu biết của nó mà được. Lời khuyên hay mệnh lệnh phải đi đôi với roi vọt. Đối với một đứa trẻ, chỉ cần nó sợ roi để làm theo những mệnh lệnh của người lớn là đã đạt yêu cầu, và chỉ cần như thế nó đã được coi là một đứa trẻ ngoan. Tôn giáo thời Cựu Ước ứng với phương pháp giáo dục dành cho trẻ con, không thể trông mong vào sự ý thức, hiểu biết, hay tình yêu của con người được. Tiêu chuẩn của sự công chính vào thời này là chỉ cần giữ luật cho đúng là được. Và người Pharisêu thời Đức Giêsu chính là mẫu người được coi là trọn hảo của thời Cựu Ước. Không ai còn có thể giữ luật trọn vẹn hơn họ!
Nhưng từ Môsê đến Đức Giêsu, dân Do Thái đã trải qua khoảng 1250 năm, trình độ văn hóa và tâm linh của họ đã thay đổi. Họ đã thoát khỏi giai đoạn tạm gọi là «trẻ con» của họ để bước sang một giai đoạn trưởng thành hơn. Do đó, tôn giáo cũng phải thay đổi để thích hợp với trình độ mới của họ, và chính Đức Giêsu là người có sứ mạng thực hiện sự thay đổi ấy. Tôn giáo mới không còn được xây dựng trên sự sợ hãi nữa, mà xây dựng trên nền tảng tình yêu. Dân Do Thái hay nhân loại lúc này được so sánh với một con người đã bước vào tuổi thanh niên. Cha mẹ không còn giáo dục anh chàng theo kiểu roi vọt nữa, mà mong đợi nơi anh sự ý thức tự giác và tình yêu. Lúc này, nếu anh học hành hay làm việc chỉ vì sợ cha mẹ đánh đòn, thì anh không còn được coi là hay là tốt nữa, mà phải do một động lực khác thúc đẩy: chẳng hạn do biết tự lo lắng cho tương lai, do biết yêu thương và làm hài lòng cha mẹ, muốn làm nở mày nở mặt cho gia tộc. Vì thế, cách sống hay giữ đạo «vị luật» của người Pharisêu không còn được Đức Giêsu coi là công chính nữa: «Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời» (Mt 5:20).
Những cuộc cách mạng vĩ đại về tôn giáo như Đức Giêsu đã từng thực hiện chắc chắn thời nào cũng bị những người đương thời chống đối vì chưa nhận ra sự hợp lý của nó. Họ còn chấp vào những hiểu biết cũ, quan niệm cũ, nguyên tắc cũ đã được nhập tâm từ nhỏ, và được coi là những chân lý bất di bất dịch. Họ cảm thấy cần bảo vệ những chân lý ấy. Chính vì thế rất nhiều người vấp phạm khi Ngài đưa ra những quan niệm mới, nguyên tắc mới.
Để nói lên sự ưu việt của thời «hậu cách mạng» do Đức Giêsu, Ngài đã đưa ra một thí dụ điển hình: «Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông» (Mt 11:11). Gioan Tẩy Giả là mẫu người công chính của Cựu Ước, sự công chính của ông không thể sánh ngang với sự công chính của thời Tân Ước được. Thật vậy, về tinh thần và phong cách sống đạo, giữa Gioan Tẩy giả và Đức Giêsu, giữa các môn đệ của hai vị có sự khác biệt rõ rệt. Điển hình như: «Các môn đệ ông Gioan tiến lại hỏi Đức Giêsu rằng: “Tại sao chúng tôi và các người Pharisêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?”» (Mt 9:14; Mc 2:18).
Vậy, chúng ta hãy tỉnh táo để khi Đức Giêsu đến lần thứ hai, với những bất ngờ không dè trước được, chúng ta không vấp phạm vì Ngài: «Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi» (Mt 11:6). 
o0o
Khi Đức Giêsu đến trần gian cách đây khoảng 2025 năm, mặc dù việc Ngài đến đã được các ngôn sứ tiên báo trước đó cả mấy trăm năm, nhưng khi Ngài đến, chẳng mấy ai nhận ra Ngài, nên đã có biết bao người vấp phạm vì Ngài, thậm chí xúc phạm và giết Ngài. Lý do là vì họ đã hiểu Kinh Thánh hay lời các ngôn sứ theo một nghĩa hoàn toàn khác với thực tế: Họ hiểu rằng Ngài sẽ đến để làm vua như những vị vua trần tục, và sẽ giải phóng dân tộc bằng quyền lực chính trị hay quân sự. Nhưng mọi lời tiên báo của các ngôn sứ đã hoàn toàn ứng nghiệm theo một nghĩa hoàn toàn khác, khác với cách tầm thường họ hiểu. Việc Ngài đến lần thứ hai để xét xử trần gian, nên Ngài sẽ đến bất ngờ như kẻ trộm (x. 1Tx 5:2), để có thể bắt quả tang những kẻ gian ác khiến họ không thể chối tội. Bất ngờ không chỉ về mặt thời gian, mà còn về cách thức, địa điểm, vai trò, địa vị trong xã hội hay tôn giáo, khác với kỳ vọng hay quan niệm của con người, ngoài dự đoán, v.v…
Ngài sẽ xét xử cách công minh, nhưng theo tiêu chuẩn công chính của Ngài, vốn rất khác với quan niệm tầm thường đầy thiên kiến và sai lầm của con người… Vì thế, hãy giữ thái độ khiêm nhượng, tránh tự hào tự mãn về bản thân. Thánh Phaolô từng cảnh báo: «Bởi vậy, ai tưởng mình đang đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo ngã» (1Cr 10:12), đúng như Đức Giêsu từng tiên báo: «nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu» (Mt 19:30). Vì thế, chúng ta cần rút kinh nghiệm và bài học quí báu từ những sự kiện trong Tin Mừng để khi Ngài đến lần thứ hai, chúng ta sẽ không vấp phạm vì Ngài. Vậy, hãy sáng suốt sống đúng tinh thần «từ bỏ chính mình», luôn sẵn sàng «vác thập giá» (Mt 16:24), chấp nhận hy sinh, đau khổ, thiệt thòi trước những đòi hỏi của lương tâm, của tình yêu và công lý trong đời sống thường ngày của mình.

Nguyễn Chính Kết

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14/01/2026(Xem: 135)
Vì tha thiết yêu thương nhân loại, Đức Giêsu đã trở nên «con chiên bị sát tế», đã chết cách thê thảm để cứu chuộc nhân loại. Và sự hy sinh ấy chính là cách Ngài thờ phượng và bày tỏ tình yêu đối với Thiên Chúa Cha, Cha của Ngài. Đó là cách thờ phượng và yêu mến Thiên Chúa tuyệt vời nhất, đẹp lòng Thiên Chúa nhất, mà chính Đức Giêsu đã làm gương để chúng ta làm theo.
14/01/2026(Xem: 142)
Đã là ngôn sứ thì phải dám nói lên tiếng nói của chân lý, công lý và tình thương, đồng thời dám trả giá rất cao, có khi bằng cả mạng sống của mình, cho lời chứng của mình giống như Gioan. Đó là đặc điểm không thể thiếu của những ngôn sứ đến từ Thiên Chúa. Người sợ hy sinh, không chấp nhận trả giá, chắc chắn không phải là ngôn sứ thật, dù họ có mang danh là đại ngôn sứ chăng nữa!
05/01/2026(Xem: 336)
Đức Giêsu hoàn toàn vô tội, nhưng Ngài mang sứ mạng đặc biệt là gánh tội trần gian, và chấp nhận chịu chết để đền tội cho trần gian trước mặt Thiên Chúa. Vì thế, Ngài đã trở thành «hiện thân của tội lỗi», như thánh Phaolô nói: «Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta» (2Cr 5:21).
05/01/2026(Xem: 304)
Đức Giêsu đến trần gian, đại diện cho nhân loại tội lỗi, hầu gánh lấy toàn bộ tội lỗi của trần gian, coi mình như kẻ có tội, để chấp nhận phép rửa Gioan, đồng thời sẵn sàng đón nhận thay nhân loại hình phạt xứng đáng dành cho kẻ có tội..
31/12/2025(Xem: 407)
Bài Tin Mừng lễ Hiễn Linh cho chúng ta thấy: việc có tôn giáo chính thống hay biết được những mặc khải chính thức của Thiên Chúa là một điều rất thuận lợi để đạt được chân lý hay để gặp được Thiên Chúa. Nhưng có đạt được chân lý hay có gặp được Thiên Chúa hay không còn tùy thuộc vào thiện chí và nỗ lực tìm kiếm của con người.
FOLLOW US
ĐĂNG KÝ NHẬN TIN MỚI
Thông tin của bạn được giữ kín tuyệt đối và có thể hủy đăng ký bất cứ lúc nào. Nhập địa chỉ email của bạn
THÔNG TIN LIÊN LẠC